Hôm qua CĐM xôn xao khi một hotgirl khá nổi tiếng lộ clip n.óng. Tuy nhiên cũng không ít người thắc mắc liệu clip có vi phạm luật hôn nhân gia đình.

Hiện tại, những hình ảnh và clip này đang được lan truyền một cách chóng mặt trên mạng xã hội.

Từ những hình ảnh được chụp lại từ clip, rất nhiều người đã khẳng định đây chính là hot girl khá nổi tiếng từ các gameshow và một vài chương trình truyền hình.

Hiện trên Facebook, dân mạng đồn rằng người đàn ông xuất hiện trong clip đã có gia đình, vợ của người đàn ông này đang mang bầu. Có ý kiến thắc mắc liệu người đẹp này có vi phạm luật hôn nhân gia đình không nếu clip này được quay trong khoảng thời gian người đàn ông kia đã có vợ?

Dân mạng đồn rằng người đàn ông xuất hiện trong clip đã có gia đình.

Một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Đồng thời, trong thời kỳ hôn nhân, nam/nữ không được kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác.

Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng tại Điều 182. Theo đó, người phạm tội ngoại tình sẽ bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm, nghiêm trọng hơn thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Đến mức nào thì chịu trách nhiệm hình sự?

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi Nġ0ạı Ƭìɴʜ không phải là một vấn đề mới Cụ thể, người có hành vi Nġ0ạı Ƭìɴʜ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng” theo Điều 147 BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009).

Theo quy định này, người có hành vi “vi phạm chế độ một vợ, một chồng” được hiểu là người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác; hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.

Từ ngày 1/7/2016, Bộ luật hình sự năm 2015 sẽ thay thế Bộ luật hình sự năm 1999. Theo quy định tại Điều 182 Bộ luật mới về “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng”, những hậu quả mà hành vi Nġ0ạı Ƭìɴʜ gây ra được quy định cụ thể, thay thế cho hậu quả chung chung được quy định trong Bộ luật cũ.

Theo đó, không phải người nào Nġ0ạı Ƭìɴʜ cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự mà chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thuộc các trường hợp quy định tại Điều 182, cụ thể:

“Điều 182: Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến một năm:

a) Làm cho Qυαɴ ʜệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến l.y h.ôn;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:

a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên Ƭự ѕӓƬ;

b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì Qυαɴ ʜệ đó”.

Khái niệm “chung sống như vợ chồng” đã được quy định tại Điều 147 Bộ luật hình sự cũ và được Điều 182 Bộ luật mới giữ nguyên. Khái niệm này đã được giải thích cụ thể tại mục 3.1 Thông tư liên tịch 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC ngày 25/9/2001:

“Chung sống như vợ chồng là việc người đang có vợ, có chồng chung sống với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà lại chung sống với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ một cách công khai hoặc không công khai nhưng cùng sinh hoạt chung như một gia đình. Việc chung sống như vợ chồng thường được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì Qυαɴ ʜệ đó…”.

Theo quy định của Điều 182 Bộ luật hình sự 2015 vừa trích dẫn ở trên, chỉ những người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ và hậu quả của việc kết hôn, chung sống như vợ chồng đó đã làm cho Qυαɴ ʜệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến l.y h.ôn thì mới có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.

Như vậy, chỉ có thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Làm cho Qυαɴ ʜệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến l.y h.ôn;

– Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm;

– Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên Ƭự ѕӓƬ;

– Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì Qυαɴ ʜệ đó.

Trường hợp chỉ bị xử lý vi phạm hành chính

Đối với trường hợp người có hành vi Nġ0ạı Ƭìɴʜ nhưng hành vi này chưa đủ yếu tố cấu thành “Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng” theo quy định của Điều 182 thì có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại khoản 1 Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP ngày 24/09/2013.

Khi vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng sẽ bị xử lý vi phạm hành chính theo Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP, sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 67/2015/NĐ-CP:

Phạt tiền từ một triệu đồng đến ba triệu đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ; […]

Trong đó, bị coi là “đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm” nếu trước đó người nào đã bị xử phạt hành chính về một trong những hành vi được liệt kê trong một điều luật nói trên, nhưng chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính mà lại:

a) Thực hiện chính hành vi đó;

b) Thực hiện một trong những hành vi được liệt kê trong điều luật tương ứng đó.

Theo quy định tại Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 thì thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính là 6 tháng, 1 năm hoặc 2 năm tùy hình thức xử lý vi phạm hành chính được áp dụng.

Theo Vietnammoi